Dạng bào chế: Bột pha dung dịch đậm đặc để pha tiêm truyền.
Liều dùng:
|
Đối tượng
|
Liều dùng (Ceftazidime/Avibactam) |
Tần suất |
Thời gian truyền |
|
Người lớn |
2g / 0,5g |
Mỗi 8 giờ |
2 giờ |
|
Trẻ 6 tháng – <18 tuổi |
50mg/12,5mg (mỗi kg cân nặng) |
Mỗi 8 giờ |
|
|
Trẻ 3 tháng – <6 tháng |
40mg/10mg (mỗi kg cân nặng) |
Mỗi 8 giờ |
|
|
Độ thanh thải Creatinin |
Liều lượng dùng |
Thời gian truyền |
|
> 50ml/phút |
Không cần chỉnh liều |
2 giờ |
|
31-50 mL/phút |
1,25 g mỗi 8 giờ |
|
|
16-30 mL/phút |
0,94 g mỗi 12 giờ |
|
|
6-15 mL/phút |
0,94 g mỗi 24 giờ |
|
|
<5 mL/phút |
0,94 g mỗi 48 giờ |
|
Ceftazidime là một Cephalosporin bán tổng hợp thuộc thế hệ thứ ba, có phổ kháng khuẩn rộng, hiệu quả trên nhiều chủng vi khuẩn gram âm và gram dương. Ceftazidim ức chế enzyme chịu trách nhiệm tổn hợp thành tế bào của vi khuẩn, chủ yếu là thông qua Protein gắn penicillin 3 (PBP3).Trong các hoạt chất cùng nhóm khác, Ceftazidime nổi bật với tác dụng kháng nhiều loại β-lactamase và khả năng tác dụng mạnh trên các chủng gram âm, bao gồm cả Pseudomonas aeruginosa. Tuy nhiên hoạt chất có tác dụng kém hơn các Cephalosporin thế hệ thứ nhất và thứ hai đối với Staphylococcus và các vi khuẩn gram dương khác.
Avibactam là một chất ức chế β-lactamase. Phổ ức chế của avibactam bao gồm nhiều enzyme làm bất hoạt ceftazidime, bao gồm cả β-lactamase loại A và β-lactamase loại C theo phân loại Ambler. Avibactam không ức chế các enzyme loại B (metallo-β-lactamase) và không có khả năng ức chế nhiều enzyme loại D.
Không có hiện tượng hiệp đồng hay đối kháng nào được chứng minh trong các nghiên cứu phối hợp thuốc trong ống nghiệm giữa ceftazidime/avibactam với metronidazole, tobramycin, levofloxacin, vancomycin, linezolid, colistin và tigecycline.

Avibactam và Ceftazidime liên kết với Protein huyết tương thấp (<10%). Ceftazidim phân bố rộng vào mô sâu và dịch cơ thể, kể cả dịch màng bụng; phân bố kém qua hàng rào máu não. Thuốc đạt nồng độ điều trị khi màng não bị viêm. Cả hai hoạt chất chủ yếu được đào thải qua thận dưới dạng không đổi. Thời gian bán thải (T½ ) của cả ceftazidime và avibactam đều khoảng 2 giờ sau khi tiêm tĩnh mạch.
Không quan sát thấy sự tích lũy đáng kể của ceftazidime hoặc avibactam sau nhiều lần truyền tĩnh mạch 2 g/0,5 g ceftazidime/avibactam mỗi 8 giờ trong tối đa 11 ngày ở người lớn khỏe mạnh có chức năng thận bình thường.
PK/PD:
Hoạt tính kháng khuẩn của ceftazidime được chứng minh là tương quan tốt nhất với phần trăm thời gian nồng độ thuốc tự do trên nồng độ ức chế tối thiểu của ceftazidime/avibactam (% f T >MIC của ceftazidime/avibactam). Đối với avibactam, chỉ số PK-PD là phần trăm thời gian nồng độ thuốc tự do trên nồng độ ngưỡng trong khoảng thời gian dùng thuốc (% f T >C T).
Ceftazidime-avibactam là một lựa chọn điều trị đầy hứa hẹn cho các bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn Gram âm đa kháng. Một tổng quan hệ thống do Nahal Khoshdel thực hiện phân tích các thử nghiệm RCT đánh giá về hiệu quả đối với các tác nhân gây bệnh Gram âm cho thấy Ceftazidime-avibactam là một lựa chọn khả thi để điều trị nhiễm trùng do vi khuẩn Gram âm, bao gồm cả cácvi khuẩn kháng carbapenem. Tỷ lệ thành công về mặt lâm sàng và vi sinh của nó tương đương với các loại kháng sinh đối chứng (carbapenem, cefepim). Tuy nhiên, Ceftazidime-avibactam có thể mang lại lợi thế trong việc quản lý các nhiễm trùng kháng thuốc (OR: 1,83 (95% CI: 1,11 đến 3,00) và p < 0,02).
Yang Wang và cộng sự thực hiện tổng quan hệ thống và phân tích gộp đánh giá xu hướng đề kháng toàn cầu ceftazidime-avibactam ở vi khuẩn gram âm ghi nhân tỷ lệ kháng ở mức 25,8% (22,2–29,7) đối với trực khuẩn gram âm không lên men và 6,1% (4,9–7,4) đối với Enterobacterales. Tỷ lệ kháng CAZ–AVI cao nhất ở châu Á là 19,3% (15,7–24,23,4). Trong số các kiểu kháng thuốc của và 32,1%), tiếp theo là các chủng kháng carbapenem (25,8%) và các chủng MDR 13%.
Tài liệu tham khảo


