BIẾN CHỨNG TẠI RUỘT DO THUỐC ỨC CHẾ MEN CHUYỂN VÀ THUỐC CHẸN THỤ THỂ ANGIOTENSIN II: KHI PHÙ MẠCH TẤN CÔNG ĐƯỜNG RUỘT

Thuốc ức chế men chuyển (ACE) và thuốc chẹn thụ thể angiotensin II (ARB) có thể gây phù mạch ở bất kỳ bề mặt niêm mạc nào, và thường ảnh hưởng đến lưỡi, mặt và đường hô hấp trên. Phù mạch cũng có thể xảy ra ở ruột. Tình trạng này có khả năng ít được nhận biết và báo cáo thiếu vì nó ít rõ ràng hơn so với khi xảy ra ở các vị trí khác.

1. Các thuốc ức chế men chuyển (ACEi) và thuốc chẹn thụ thể angiotensin II (ARB) đang sử dụng tại bệnh viện

Thuốc ức chế men chuyển (ACEi) và thuốc chẹn thụ thể angiotensin II (ARB) tác động lên hệ renin-angiotensin-aldosterone (RAAS). Song song với tác dụng hạ huyết áp, thuốc ức chế hệ RAA cũng giúp giảm tình trạng tái cấu trúc mạch máu và cơ tim (dày thành thất trái).

2. Phù mạch với thuốc ức chế ACE và ARB

Phù mạch là tình trạng sưng cục bộ dưới da hoặc dưới niêm mạc do sự thoát dịch vào các mô kẽ. Bất kỳ mô niêm mạc nào cũng có thể bị ảnh hưởng, mặc dù phù mạch thường ảnh hưởng nhất đến lưỡi, mặt và đường hô hấp trên.

  • Thuốc ức chế ACE được cho là gây phù mạch do sự tích tụ bradykinin. Phù mạch do thuốc ức chế ACE hiếm gặp, xảy ra ở khoảng 0,1% đến 0,7% bệnh nhân điều trị bằng nhóm thuốc này. Thuốc ức chế ACE bị chống chỉ định ở những bệnh nhân từng bị phù mạch trước đó do thuốc ức chế ACE.
  • Nguy cơ phù mạch với ARB thấp hơn so với thuốc ức chế ACE. Một số nghiên cứu cho thấy nguy cơ phù mạch với ARB tương đương với các thuốc hạ huyết áp khác (ví dụ: thuốc chẹn beta) và giả dược. Cơ chế gây phù mạch của ARB hiện vẫn chưa rõ.
    Việc sử dụng ARB không bị chống chỉ định tuyệt đối ở những người từng bị phù mạch với thuốc ức chế ACE. Tuy nhiên, việc tái phát phù mạch sau khi chuyển sang ARB đã được báo cáo xảy ra ở 1,5% bệnh nhân.
  • Sacubitril + valsartan chống chỉ định ở bệnh nhân có tiền sử phù mạch do thuốc ức chế ACE hoặc ARB.

3. Phù mạch đường ruột – một bệnh cảnh cần lưu ý

Phù mạch cũng có thể xảy ra ở mô niêm mạc của ruột, có hoặc không kèm theo các vị trí khác bị ảnh hưởng. Phù mạch đường ruột có khả năng ít được nhận biết và báo cáo thiếu vì nó ít biểu hiện rõ ràng hơn so với ở lưỡi, mặt và đường hô hấp trên.

Bệnh nhân có thể biểu hiện các triệu chứng tiêu hóa không đặc hiệu, chẳng hạn như đau bụng, tiêu chảy, buồn nôn hoặc nôn. Vì có nhiều tình trạng và bệnh lý khác cũng có các triệu chứng tương tự, việc chẩn đoán phù mạch đường ruột có thể gặp nhiều thách thức.

Đã có báo cáo về việc bệnh nhân phải trải qua các thủ thuật không cần thiết nhằm loại trừ các nguyên nhân khác. Một số bệnh nhân cũng báo cáo rằng các triệu chứng của họ có tính chất tự giới hạn, tự khỏi trong vòng 2 đến 3 ngày ngay cả khi không ngừng thuốc nghi ngờ. Bệnh nhân có thể bị các đợt phù mạch đường ruột trong nhiều năm trước khi được chẩn đoán chính xác.

Hãy cân nhắc phù mạch đường ruột ở những bệnh nhân đang sử dụng thuốc ức chế ACE hoặc ARB và:

  • Bị đau bụng có hoặc không kèm theo các triệu chứng tiêu hóa khác.
  • Chụp cắt lớp vi tính (CT) hoặc siêu âm bụng/chậu cho thấy thành ruột dày lên, có hoặc không kèm theo cổ trướng (dịch ổ bụng).
  • Có nồng độ chất ức chế C1-esterase bình thường.
  • Các triệu chứng thuyên giảm sau khi ngừng thuốc ức chế ACE hoặc ARB.

Nếu được chẩn đoán phù mạch đường ruột, hãy ngừng ngay loại thuốc nghi ngờ.

Nguồn:
https://www.medsafe.govt.nz/profs/PUArticles/December2025/ACEIs-and-ARBs-intestinal-angioedema.html

Người thực hiện:
DS. Cao Tạ Minh Toàn –
Khoa Dược – Bệnh viện Đa khoa Bưu Điện

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *