402881ee660e52a601660e7203fd0092
402881ee66425f8b01664328210c0193
4028eaa468e5ae000169052ac8b74acd
Những điều cần biết về Viêm gan C
/tin-tuc/201902/nhung-dieu-can-biet-ve-viem-gan-c-8b74acd/
0
HOTLINE: 0283.864.9834 bvdkbuudien@vnpt.vn

Những điều cần biết về Viêm gan C

  16:51, 19/02/2019 

Viêm gan C là bệnh viêm gan do virus viêm gan C gây ra. Viêm gan C được tìm thấy trên toàn cầu, một số nước có tỷ lệ nhiễm mãn tính cao tới 5% hoặc hơn, ước tính có khoảng 170 – 180 triệu người bị nhiễm virus viêm gan C mạn tính có nguy cơ phát triển thành xơ gan và/hoặc ung thư gan. Mỗi năm có 3 - 4 triệu người bị nhiễm virus viêm gan C trên toàn thế giới và khoảng 400.000 người chết vì bệnh gan liên quan đến viêm gan C mỗi năm, chủ yếu là do xơ gan và ung thư biểu mô tế bào gan. Tỷ lệ nhiễm viêm gan C ở Việt Nam trong dân số nói chung là thấp và tập trung ở những người tiêm chích ma túy. Có thể tới 97% những người tiêm chích ma túy bị nhiễm virus viêm gan C. Các thuốc kháng virus thế hệ mới (DAA) có thể chữa khỏi trên 95% số người bị nhiễm viêm gan C, do đó làm giảm nguy cơ tử vong do ung thư gan và xơ gan. Đến giờ vẫn chưa có vắc-xin dự phòng lây nhiễm viêm gan C, tuy nhiên vắc-xin viêm gan C vẫn đang được ráo riết nghiên cứu. Virus viêm gan C (HCV) gây ra cả nhiễm trùng cấp tính và mãn tính. Nhiễm HCV cấp tính thường không có triệu chứng, và chỉ rất hiếm khi dẫn đến đe dọa tính mạng. Khoảng 15 - 45% số người nhiễm bệnh tự nhiên loại bỏ virus trong vòng 6 tháng sau khi bị nhiễm mà không cần điều trị, 60 - 80% số người còn lại sẽ bị nhiễm HCV mạn tính, trong số đó thì 15 - 30% có nguy cơ xơ gan trong vòng 20 năm. Viêm gan C có ở trên khắp thế giới, khu vực bị ảnh hưởng nhiều nhất là vùng Đông Địa Trung Hải và Châu Âu, với tỷ lệ tương ứng là 2,3% và 1,5%. Tỷ lệ nhiễm HCV ở các khu vực khác thay đổi từ 0,5% đến 1,0%, tùy thuộc vào quốc gia, nhiễm vi rút viêm gan C có thể tập trung ở một số quần thể nhất định (ví dụ, trong số những người tiêm chích ma túy) và/hoặc trong các quần thể nói chung. Có nhiều chủng (hoặc kiểu gen) của virus HCV và sự phân bố của chúng thay đổi theo vùng.

Virus viêm gan C được lây truyền qua đường máu. Nó thường được truyền qua: tiêm chích ma túy do dùng chung bơm kim tiêm; do tái sử dụng hoặc khử trùng không đầy đủ các thiết bị y tế, đặc biệt là ống tiêm và kim tiêm; truyền máu và các sản phẩm máu không được sàng lọc. HCV cũng có thể lây truyền qua đường tình dục và truyền từ người mẹ bị nhiễm sang con, tuy nhiên các đường lây truyền này ít phổ biến hơn nhiều. Viêm gan C không lây qua sữa mẹ, thức ăn, nước uống hoặc do tiếp xúc thông thường như ôm, hôn và chia sẻ thức ăn hoặc đồ uống với người bị nhiễm bệnh.

 

Thời gian ủ bệnh viêm gan C là 2 tuần đến 6 tháng. Sau khi bị nhiễm trùng ban đầu, khoảng 80% mọi người không biểu hiện bất kỳ triệu chứng nào. Những người có triệu chứng cấp tính có thể biểu hiện sốt, mệt mỏi, chán ăn, buồn nôn, nôn, đau bụng, nước tiểu sẫm màu, phân màu xám, đau khớp và vàng da (vàng da và vàng mắt). Do thực tế là nhiễm HCV cấp tính thường không có triệu chứng nên rất ít người được chẩn đoán trong giai đoạn cấp tính. Ở những người tiếp tục phát triển nhiễm HCV mạn tính, nhiễm trùng cũng thường không được chẩn đoán vì nhiễm trùng vẫn không có triệu chứng cho đến hàng thập kỷ sau khi nhiễm trùng khi các triệu chứng phát triển thành tổn thương gan nghiêm trọng. Nhiễm HCV được chẩn đoán theo 2 bước:

  • Sàng lọc các kháng thể chống HCV bằng xét nghiệm huyết thanh anti - HCV xác định những người đã bị nhiễm virus.
  • Nếu xét nghiệm dương tính với kháng thể kháng HCV, xét nghiệm NAT ( axit nucleic cho axit ribonucleic của HCV – HCV-RNA) cần thiết để xác nhận nhiễm trùng mãn tính vì khoảng 30% người nhiễm HCV tự nhiên loại bỏ nhiễm trùng bằng phản ứng miễn dịch mà không cần điều trị. Mặc dù không còn bị nhiễm bệnh, họ vẫn có xét nghiệm dương tính với kháng thể kháng HCV.

Sau khi một người được chẩn đoán bị nhiễm viêm gan C mãn tính, họ nên có đánh giá về mức độ tổn thương gan (xơ hóa và xơ gan). Điều này có thể được thực hiện bằng sinh thiết gan hoặc thông qua một loạt các xét nghiệm không xâm lấn. Ngoài ra, những người này cần thêm xét nghiệm để xác định kiểu gen của chủng viêm gan C. Có 6 kiểu gen của HCV (genotype 1- 6) và chúng đáp ứng khác nhau với điều trị. Hơn nữa, một người có thể bị nhiễm hơn 1 kiểu gen. Mức độ tổn thương gan và kiểu gen của virus được sử dụng để hướng dẫn các quyết định điều trị và theo dõi diễn biến bệnh.

Điều trị viêm gan C hiện nay đã rất tiến bộ, chỉ định và phác đồ điều trị bệnh viêm gan C đang thay đổi nhanh chóng nhờ sự ra đời của các thuốc kháng virus tác dụng trực tiếp (DAA). Những loại thuốc này hiệu quả hơn, an toàn hơn và dung nạp tốt hơn so với các liệu pháp cũ. Điều trị bằng DAA có thể chữa khỏi hầu hết những người bị nhiễm HCV và thời gian điều trị ngắn hơn (thường là 12 tuần). Viên kết hợp sofosbuvir/daclatasvir hay sofosbuvir/ledipasvir là ưu tiên điều trị trong các guidelines mới nhất với tỷ lệ chữa khỏi trên 95%. Mục tiêu của điều trị viêm gan C là chữa khỏi bệnh, tỷ lệ chữa khỏi phụ thuộc vào một số yếu tố bao gồm chủng virus và loại thuốc điều trị được đưa ra.

Vì hiện tại vẫn chưa có vắc-xin viêm gan C, do đó, việc ngăn ngừa nhiễm HCV phụ thuộc vào việc giảm nguy cơ phơi nhiễm với virus ở các cơ sở chăm sóc sức khỏe và ở những người có nguy cơ cao hơn, ví dụ, những người tiêm chích ma túy và  quan hệ tình dục không an toàn.

BSCKII Vũ Trường Sơn - Trưởng khoa HSCC Bệnh viện Đa khoa Bưu điện