402881ee660e52a601660e7203fd0092
402881ee66425f8b01664328210c0193
4028eaa4697b135b01697b62f3b42af2
Bệnh viêm gan B
/tin-tuc/201903/benh-viem-gan-b-3b42af2/
0
HOTLINE: 0283.864.9834 info@benhviendakhoabuudien.vn

Bệnh viêm gan B

  16:05, 14/03/2019 

     Viêm gan B là một bệnh truyền nhiễm do virus (viêm gan B) tấn công tế bào gan gây ra bệnh viêm gan cấp tính hay mãn tính và có khả năng đe dọa tính mạng người bệnh. Virus này lây truyền qua tiếp xúc với máu hoặc các chất dịch cơ thể của người bị nhiễm bệnh. Viêm gan B là một vấn đề sức khỏe toàn cầu lớn, trên thế giới có hai tỷ người đã và đang bị nhiễm virus này và mỗi năm có khoảng 600.000 người chết do các biến chứng viêm gan B gây ra (bao gồm xơ gan và ung thư gan). Tuy nhiên, hiện nay việc lây nhiễm virus viêm gan B có thể được ngăn ngừa hiệu quả bằng các loại vắc-xin an toàn có trên thị trường, vắc-xin chống viêm gan B đã có sẵn từ năm 1982.  Việt Nam là nước có tỷ lệ hiện mắc viêm gan B cao, ước tính có khoảng 8,6 triệu người nhiễm vi rút viêm gan B. Tỷ lệ nhiễm vi rút viêm gan B mạn tính được ước tính khoảng 8,8% ở phụ nữ và 12,3% ở nam giới.

     Virus viêm gan B có thể tồn tại bên ngoài cơ thể trong 7 ngày và có thể gây bệnh nếu xâm nhập vào cơ thể của người không được bảo vệ bởi vắc-xin. Thời gian ủ bệnh của virus viêm gan B trung bình là 75 ngày, nhưng có thể thay đổi từ 30 đến 180 ngày. Virus có thể được phát hiện trong vòng 30 đến 60 ngày sau khi nhiễm bệnh và có thể tồn tại và phát triển thành viêm gan B. Ở những vùng lưu hành cao như Việt Nam, viêm gan B thường lây lan từ mẹ sang con khi sinh (lây truyền chu sinh) hoặc lây truyền qua đường ngang (tiếp xúc với máu bị nhiễm bệnh), đặc biệt là từ một đứa trẻ bị nhiễm bệnh sang một đứa trẻ không bị nhiễm bệnh trong 5 năm đầu đời. Sự phát triển của nhiễm trùng mãn tính rất phổ biến ở trẻ sơ sinh bị nhiễm từ mẹ hoặc trước 5 tuổi. Viêm gan B cũng lây lan qua da hoặc niêm mạc do tiếp xúc với máu bị nhiễm bệnh và các chất dịch cơ thể khác của người bệnh như qua nước bọt, kinh nguyệt, âm đạo và tinh dịch… Lây truyền bệnh viêm gan B qua đường tình dục hay gặp ở những người đàn ông không được tiêm chủng có quan hệ tình dục đồng giới, hoặc có nhiều bạn tình hoặc tiếp xúc với gái mại dâm. Việc truyền virus xảy ra thông qua việc sử dụng chung kim và ống tiêm trong môi trường chăm sóc sức khỏe hoặc giữa những người tiêm chích ma túy. Ngoài ra, nhiễm trùng có thể xảy ra trong các quá trình y tế, phẫu thuật và nha khoa, châm cứu, xăm trổ thông qua việc sử dụng dao cạo và các vật tương tự bị nhiễm máu người bệnh.

     Hầu hết mọi người không gặp bất kỳ triệu chứng nào trong giai đoạn nhiễm trùng cấp tính. Tuy nhiên, một số người mắc bệnh cấp tính với các triệu chứng kéo dài vài tuần, bao gồm vàng da và vàng mắt, nước tiểu sẫm màu, mệt mỏi, buồn nôn, nôn và đau bụng. Một tỉ lệ nhỏ của những bệnh nhân viêm gan cấp tính có thể diễn biến nặng tới suy gan cấp tính và dẫn đến tử vong. Ở một số người, virus viêm gan B gây nhiễm trùng gan mạn tính mà sau đó có thể phát triển thành xơ gan và/hoặc ung thư gan. Khả năng nhiễm trùng trở thành mãn tính tùy thuộc vào độ tuổi mà một người bị nhiễm bệnh. Trẻ em dưới 6 tuổi bị nhiễm virut viêm gan B có khả năng trở thành nhiễm trùng mãn tính cao nhất, trong đó 80 - 90% trẻ sơ sinh bị nhiễm bệnh trong năm đầu đời sẽ thành nhiễm trùng mạn tính và 30 - 50% trẻ em bị nhiễm trước 6 tuổi bị nhiễm trùng mãn tính. Ở người trưởng thành thì nhỏ hơn 5% số những người khỏe mạnh bị nhiễm bệnh khi trưởng thành sẽ trở thành nhiễm trùng mãn tính, và 20 - 30% người trưởng thành bị nhiễm mạn tính sẽ bị xơ gan và/hoặc ung thư gan.

     Trên cơ sở lâm sàng, không thể phân biệt viêm gan B với viêm gan do các tác nhân virus khác gây ra và do đó, việc xác nhận chẩn đoán trong phòng thí nghiệm là rất cần thiết. Chẩn đoán nhiễm trùng viêm gan B trong phòng thí nghiệm tập trung vào việc phát hiện kháng nguyên bề mặt viêm gan B là HBsAg. Viêm gan B cấp tính được đặc trưng bởi sự hiện diện của kháng nguyên HBsAg và kháng thể IgM đối với kháng nguyên lõi, HbcAg là Anti-HBc IgM. Trong giai đoạn đầu của nhiễm trùng, bệnh nhân cũng dương tính với kháng nguyên HbeAg, thường là dấu hiệu virus đang nhân lên và máu và dịch cơ thể của người bệnh này có khả năng lây nhiễm cao. Nhiễm trùng mãn tính được đặc trưng bởi sự tồn tại của HBsAg trong ít nhất 6 tháng (có hoặc không có HBeAg đồng thời). Sự tồn tại của HBsAg là dấu hiệu chính của nguy cơ phát triển bệnh gan mạn tính và ung thư gan sau này.

     Hiện tại chưa có cách điều trị đặc hiệu cho bệnh viêm gan B cấp tính, do đó, việc chăm sóc chính là nghỉ ngơi, dinh dưỡng đầy đủ, bao gồm thay thế lượng dịch bị mất do nôn mửa và tiêu chảy. Nhiễm viêm gan B mãn tính có thể được điều trị bằng thuốc, bao gồm cả thuốc kháng virus uống mục đích ức chế virus tối đa để làm chậm sự tiến triển của bệnh tới xơ gan, giảm tỷ lệ mắc ung thư gan và cải thiện khả năng sống sót lâu dài. WHO khuyến cáo sử dụng phương pháp điều trị bằng 2 thuốc uống ưu tiên là tenofovir hoặc entecavir, vì đây là những loại thuốc mạnh nhất để ức chế virus viêm gan B, hiếm khi dẫn đến kháng thuốc so với các loại thuốc khác, sử dụng đơn giản là uống 1 viên thuốc mỗi ngày, ít tác dụng phụ nên không cần theo dõi phức tạp. Tuy nhiên, ở hầu hết mọi người, phương pháp điều trị không chữa khỏi bệnh viêm gan B mà chỉ ngăn chặn sự nhân lên của virus. Do đó, hầu hết những người bắt đầu điều trị viêm gan B phải tiếp tục điều trị suốt đời. Những hướng dẫn mới cũng khuyến cáo điều trị suốt đời cho những người bị xơ gan, và theo dõi thường xuyên tiến triển của bệnh, độc tính của thuốc và phát hiện sớm ung thư gan.

     Trong số các biến chứng lâu dài của nhiễm virus viêm gan B, xơ gan và ung thư biểu mô tế bào gan gây ra gánh nặng bệnh tật lớn. Ung thư gan tiến triển nhanh chóng, và vì các lựa chọn điều trị bị hạn chế, kết quả nói chung là kém. Ở những nơi có thu nhập thấp, hầu hết những người bị ung thư gan đều chết trong vòng vài tháng sau khi chẩn đoán. Ở các nước thu nhập cao, phẫu thuật và hóa trị có thể kéo dài cuộc sống tới vài năm. Ghép gan đôi khi được sử dụng ở những người bị xơ gan ở các nước thu nhập cao, với sự thành công khác nhau.

     Phòng ngừa nhiễm virus viêm gan B chủ yếu và quan trọng nhất là chích ngừa vắc-xin viêm gan B. WHO khuyến cáo rằng tất cả trẻ sơ sinh nên tiêm vắc-xin viêm gan B càng sớm càng tốt sau khi sinh, tốt nhất là trong vòng 24 giờ. Tỷ lệ nhiễm viêm gan B mạn tính thấp ở trẻ em dưới 5 tuổi hiện nay là do việc sử dụng rộng rãi vắc-xin viêm gan B. Trên toàn thế giới, năm 2015, tỷ lệ nhiễm HBV ước tính ở nhóm tuổi này là khoảng 1,3%, so với khoảng 4,7% trong thời kỳ trước tiêm chủng. Liều sau sinh nên được tiếp tục với 2 hoặc 3 liều còn lại để hoàn thành tạo miễn dịch cơ bản. Trong hầu hết các trường hợp, 1 trong 2 tùy chọn sau được coi là phù hợp:

     + Liệu trình vắc-xin viêm gan B cơ bản 3 liều, với liều đầu tiên (đơn trị liệu) được tiêm khi sinh và liều vắc-xin thứ hai và thứ ba (vắc-xin đơn trị hoặc phối hợp) được tiêm cùng lúc với liều thứ nhất và thứ ba của bệnh bạch hầu, ho gà và uốn ván - (DTP vắc-xin).

     + Liệu trình 4 liều, trong đó một liều đơn trị khi sinh được theo sau bởi ba liều vắc-xin đơn trị hoặc phối hợp, thường được tiêm cùng với các loại vắc-xin cho trẻ sơ sinh thông thường khác.

     Một liệu trình vắc-xin cơ bản hoàn chỉnh như trên tạo ra mức kháng thể bảo vệ ở trên 95% trẻ sơ sinh, trẻ em và thanh niên. Bảo vệ kéo dài ít nhất 20 năm và có lẽ là suốt đời. Vì vậy, WHO không khuyến cáo tiêm vắc-xin tăng cường cho những người đã hoàn thành lịch tiêm chủng 3 liều. Vắc-xin viêm gan B có một hồ sơ tuyệt vời về tính an toàn và hiệu quả. Kể từ năm 1982, hơn 1 tỷ liều vắc-xin viêm gan B đã được sử dụng trên toàn thế giới. Ở nhiều quốc gia nơi có khoảng 8 - 15% trẻ em bị nhiễm virut viêm gan B mạn tính, việc tiêm phòng đã làm giảm tỷ lệ nhiễm trùng mãn tính xuống dưới 1% ở trẻ em được tiêm chủng.

    Thực hành tiêm an toàn, loại bỏ tiêm chích không cần thiết và không an toàn, có thể là chiến lược hiệu quả để bảo vệ chống lây truyền viêm gan B. Ngoài ra, tuyên truyền và thực hành tình dục an toàn hơn, bao gồm giảm thiểu số lượng bạn tình và sử dụng các biện pháp bảo vệ như bao cao su cũng làm giảm lây truyền viêm gan B.

Theo BSCKII. Vũ Trường Sơn – Trưởng khoa HSCC – Bệnh viện đa khoa Bưu Điện